Bộ đôi bạn trẻ người Việt Nam và Canada giúp người học đánh giá các trường học với dự án khởi nghiệp giáo dục

Bộ đôi bạn trẻ người Việt Nam và Canada giúp người học đánh giá các trường học với dự án khởi nghiệp giáo dục

Hai thanh niên từ Việt Nam và Canada đã biến tầm nhìn của họ vào việc giúp các học viên người Việt Nam chọn đúng trường vào cộng đồng đánh giá giáo dục đầu tiên của nước Đông Nam Á.

Hồ Đức Hoàn người Việt Nam, 26 tuổi, và Austin Carter người Canada, 24 tuổi, gặp nhau ở Pháp trong khi cả hai đang theo học tại Đại học Catholic de Lyon trở lại năm 2013. Với một niềm đam mê khởi nghiệp chung, họ vẫn giữ liên lạc sau khi tốt nghiệp để trao đổi ý kiến về một dự án khởi nghiệp mà họ có thể làm việc cùng nhau.

Thời điểm quyết định là vào tháng Sáu năm ngoái, khi Carter quyết định bỏ công việc lương cao của mình ở Canada và đã đến Việt Nam để bắt đầu làm việc cho dự án khởi nghiệp giáo dục đầu tiên của họ theo đề nghị của người bạn Việt.

Hoàn cũng đã từ bỏ cơ hội làm việc và định cư tại Pháp để tập trung hoàn toàn vào ý tưởng của mình tạo ra một nền tảng nơi mà người học có thể để lại ý kiến và đánh giá các cơ sở giáo dục trong nước.

Ý tưởng về một nền tảng như vậy dẫn đến một kết quả quan sát của anh về cách người Việt đang bị đối xử với việc thiếu uy tín ở nước ngoài.

“Có thời gian khi tôi đang quá cảnh tại sân bay Frankfurt, trong số hàng trăm hành khách, chỉ có một nhóm sinh viên Việt Nam bị giữ lại để nghiên cứu an ninh kỹ lưỡng”, Hoàn nhớ lại. “Trong lúc học ở châu Âu, tôi có thể thấy rằng mức độ tin tưởng của người dân địa phương đối với người Việt là vô cùng thấp, thậm chí về giới hạn giáo dục.”

Hòan cho biết, những quan sát như vậy đã khiến anh nghĩ ra một cách để cải thiện độ tin cậy của các cá nhân và tổ chức người Việt Nam, nhằm tăng cường hình ảnh của đất nước mình nói chung.

Cộng đồng đánh giá giáo dục đầu tiên của Việt Nam

Ra mắt vào năm 2015, dự án khởi nghiệp của Hoàn và Carter (EBIV) xoay quanh việc cung cấp cho người dùng một nền tảng để đưa ra các đánh giá và điểm số ở các trường đại học, cao đẳng, trung tâm ngôn ngữ, và câu lạc bộ ở Việt Nam.

Tính đến tháng 11, trang web của EBIV đã có gần 280.000 lần lượt truy cập. Bây giờ nó hiện đang cung cấp cho hơn 20.000 lượt xem chia sẻ từ người học trên các cơ sở giáo dục trong cả nước.

Dự án khởi nghiệp đã được vinh danh tại nhiều cuộc thi khởi nghiệp địa phương chẳng hạn như Startup Wheel năm 2016 và Hatch! Battle năm 2016, và sẽ đại diện cho Việt Nam tham dự Hội nghị khởi nghiệp quốc tế SLUSH tại Phần Lan vào cuối tháng này.

Mặc dù thành công như vậy, nhưng Hoàn cho biết anh cũng đã phải đối mặt với những thách thức lớn trong vài tháng đầu sau khi ra mắt EBIV.

Trong giai đoạn này, nền tảng của hai bạn trẻ nhằm vào một cơ sở người dùng rộng hơn nhiều, cho phép người dùng trình bày ý kiến về các trường mẫu giáo và thậm chí các trường trung học, trong đó sớm đưa ra sự phản tác dụng khi trang web bị nghẽn với những thông tin vô ích.

Khó khăn ban đầu khiến cả hai phải điều chỉnh chiến lược của mình nhằm mục tiêu cho những cơ sở giáo dục cao hơn.

Hai người cho biết họ đang tìm cách mở rộng EBIV cho người dùng ở các nước Đông Nam Á khác và tìm kiếm các quỹ trong năm 2017, trong khi đó họ tiết lộ kế hoạch bao gồm hình ảnh và video lượt xem, đánh giá trong tương lai gần.

(Nguồn: http://tuoitrenews.vn/education/38518/vietnamcanada-duo-help-learners-review-schools-with-education-startup)

 

Công nghiệp thúc đẩy kế hoạch phát triển đổi mới

Nhiều khu vực đã xây dựng các kế hoạch phát triển dài hạn, nhưng sau một thời gian triển khai thực hiện các kế hoạch đó, họ phải điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tế.

Các chuyên gia từ các ngành công nghiệp xây dựng, than và may mặc nói với một phóng viên báo Thông tấn xã Việt Nam về việc điều chỉnh các kế hoạch phát triển của những ngành công nghiệp đó.

Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú cho sản xuất xi măng, với một sản lượng đá vôi 12,5 tỷ tấn. Bây giờ, năng lực của các ngành công nghiệp xi măng trong nước đã tăng lên 20-25% so với nhu cầu địa phương.

Nhiều ý kiến cho rằng tiêu thụ xi măng trong nước đã phát triển nhưng ngành công nghiệp xi măng nên coi xuất khẩu là một kế hoạch dài hạn để giảm sự cung cấp quá mức 20 triệu tấn xi măng mỗi năm.

Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong giai 2011-2020 và đến năm 2030, được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định Số 1488 / QĐ-TTg năm 2011, đã hỗ trợ sự phát triển hiệu quả của ngành công nghiệp từ năm 2011 đến nay.

Tuy nhiên, sau năm năm thực hiện, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý mang 14 dự án xi măng với dung tích nhỏ khoảng 910.000 tấn xi măng mỗi năm ra vượt kế hoạch, làm chậm sự phát triển của 9 dự án khác và đầu tư chậm 7 dự án khác.

Do đó, theo những hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Xây dựng đã và đang xây dựng kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong giai 2017-2025 và hướng đến năm 2035 nhằm thay thế kế hoạch theo Quyết định 1488.

Mục tiêu của kế hoạch mới theo sự phát triển kinh tế-xã hội, cung và cầu xi măng trên thị trường địa phương, và phát triển thực tế các dự án xi măng theo kế hoạch phát triển.

Đặc biệt, Bộ sẽ điều chỉnh, bổ sung danh mục các dự án đảm bảo tính khả thi cũng như xem xét và điều chỉnh tiến độ phát triển dự án theo kế hoạch để cân bằng cung và cầu.

Việc đổi mới kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp xi măng phải chú ý đến hiệu quả và tính bền vững cũng như tránh lãng phí các nguồn lực và xuất khẩu xi măng xuất khẩu với bất cứ giá.

Hiện nay, một số nhà đầu tư nước ngoài đã lên kế hoạch để mua các nhà máy xi măng hiện đại tại Việt Nam để sản xuất xi măng cho thị trường trong nước họ.

Họ sẽ tận dụng lợi thế về thuế, chẳng hạn như thuế xuất khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với các sản phẩm giá rẻ, trong khi đó, họ sẽ không phải sử dụng các nguồn lực trong nước của họ và cũng tránh sự ô nhiễm từ sản xuất xi măng.

Vì vậy, ngành công nghiệp xi măng cần phải có các mục tiêu cụ thể phù hợp với chiến lược phát triển dài hạn, bao gồm cả tiêu thụ và xuất khẩu trong nước.

Kế hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 và định hướng 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định Số 60/QĐ-TTg năm 2012 nhằm mục tiêu sản lượng than của 55-58 triệu tấn vào năm 2015, 60-65 triệu tấn vào năm 2020, 66-70 triệu tấn trong năm 2025 và hơn 75 triệu đô trong năm 2030.

Tuy nhiên, những khó khăn trong sản xuất có nghĩa là sản lượng than của ngành công nghiệp chỉ đạt 37,6 triệu tấn và tiêu thụ đứng ở mức 35,5 triệu trong năm 2015, còn thiếu mục tiêu.

Do đó, kế hoạch phát triển đã được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của thị trường. Theo đó, mục tiêu đã được giảm xuống, với sản lượng than 41 – 44 triệu tấn trong năm 2016, 51 – 54 triệu tấn vào năm 2020 và 55 – 57 triệu tấn trong năm 2030.

Sự phát triển ngành công nghiệp than theo kế hoạch đổi mới sẽ đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước, tận dụng hiệu quả than và tiết kiệm nguồn tài nguyên than.

Ngoài ra, ngành công nghiệp sẽ giảm xuất khẩu than và tập trung vào xuất khẩu than ở các quốc gia có nhu cầu ít.

Ngành công nghiệp than đã phải đối mặt với thời kỳ khó khăn nhất trong 10 năm qua. Năm nay, sản lượng than được dự đoán sẽ giảm 3 triệu tấn so với năm 2015.

Hiện nay, với nguồn lực hạn chế và than giảm gia ở thị trường trong nước và toàn cầu, Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam sẽ kiểm tra trữ lượng than trong nước nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

Tập đoàn sẽ phát triển và áp dụng các công nghệ tiên tiến để thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng than cũng như giảm các tổn thất trong quá trình khai thác than.

Theo kế hoạch phát triển của ngành công nghiệp dệt may ở Việt Nam vào năm 2020 đến năm 2030, ngành công nghiệp dệt may được dự kiến sẽ đạt 20 tỷ đô trong giá trị xuất khẩu năm 2015, nhưng ngành công nghiệp đã đạt giá trị xuất khẩu 27.5 tỷ đô trong năm 2015 và dự kiến đạt 29 tỷ đô trong năm nay.

Trong vòng 5 năm 2010-2015, ngành công nghiệp đã nắm giữ một tốc độ tăng trưởng đạt giá trị xuất khẩu ở mức 15% trên năm.

Mục tiêu về giá trị xuất khẩu thấp hơn nhiều so với các con số thực tế và kế hoạch phát triển không còn phù hợp với sự phát triển thực tế của ngành công nghiệp.

Do đó, Hiệp hội đã đề nghị Chính phủ và các Bộ, Ban ngành liên quan xem xét kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp dệt may đến năm 2020 để hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may địa phương trong việc tận dụng cơ hội cũng như khắc phục những thách thức từ các hiệp định thương mại tự do.

Việc điều chỉnh kế hoạch có hiệu lực cho đến năm 2025 và hướng tới năm 2040.

Hiệp hội đã đề nghị Chính phủ, Bộ Công nghiệp và Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng các kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp, bao gồm cả kế hoạch phát triển ở khu công nghiệp. Nhiều công ty dệt may nhỏ đã không được tập trung ở các khu chuyên biệt cho ngành dệt may, dẫn đến những khó khăn trong việc quản lý và xử lý nước thải. Yếu tố này có liên quan đến sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường của ngành công nghiệp.

Đổi mới kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp dệt may đến năm 2020 và định hướng 2030 là cần thiết bởi vì ngành công nghiệp này dự kiến sẽ có nhiều lợi thế để phát triển trong vòng 10 năm tới. – theo báo Vietnamnews

 

Bộ Ngoại giao Việt Nam thắt chặt mối quan hệ với đối tác Lào

THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN – Bộ Ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục quan hệ hợp tác chặt chẽ của mình với đối tác Lào để củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, vì lợi ích của nhân dân các nước và sự thành công những nguyên nhân mang tính cách mạng.

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã cam kết trong cuộc họp với Tổng Bí thư và Chủ tịch nước Lào Bounnhang Vorachith và Thủ tướng Thongloun Sisoulith.

Các cuộc họp là phần nào của chuyến thăm chính thức đên Lào vào ngày Chủ Nhật và Thứ Hai, trong đó ông cũng đồng chủ trì cố vấn chính trị thứ ba ở cấp bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Chào đón chuyến thăm chính thức của ông Minh, các nhà lãnh đạo hàng đầu của Lào đã mô tả cuộc hội đàm chính trị giữa các bộ trưởng ngoại giao như là một cơ chế hợp tác quan trọng cho cả hai bên để thảo luận về các vấn đề chiến lược cho các Bộ ngoại giao có thể phối hợp một cách hiệu quả để cố vấn cho các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước của mình về công tác ngoại giao.

Họ cũng đánh giá cao sự hỗ trợ tuyệt vời và hết mình mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Việt Nam dành cho các đối tác Lào. Họ lưu ý Lào luôn coi trọng quan hệ hữu nghị trong thời gian qua, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Các nhà lãnh đạo đã gửi lời cảm ơn Việt Nam vì ủng hộ nước họ làm Chủ tịch ASEAN trong năm nay, điều đó đã giúp Lào nâng cao tầm vóc của mình trên thế giới.

Họ hy vọng hai bên sẽ thắt chặt mối quan hệ trong thời gian tới, thêm vào đó sự hợp tác gẫn gũi hơn là cần thiết để chuẩn bị cho các hoạt động đánh dấu 55 năm thiết lập quan hệ Ngoại giao và 40 năm kể từ khi ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt – Lào vào năm 2017.

Trong các cuộc trò chuyện giữa Bộ trưởng Minh và người đồng cấp Lào Saleumxay Kommasith, các quan chức ghi nhận với sự hài lòng về phát triển sâu rộng và hiệu quả của các mối quan hệ của nước mình trong tất cả các lĩnh vực.

Cả hai bên đã làm việc với nhau để giải quyết những khó khăn và vướng mắc để tăng cường các mối quan hệ đối tác kinh tế, đặc biệt là trong việc đẩy nhanh các dự án về năng lượng và liên kết gýiao thông, nâng cao hiệu quả hợp tác trong giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, quản l và sử dụng viện trợ tài chính cho Lào, các Bộ trưởng lưu ý.

Họ đã cam kết sẽ chỉ đạo các Bộ của mình gìn giữ sự hợp tác để phục vụ trao đổi các chuyến thăm của các nước và tăng tính hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có. Họ cũng sẽ thúc giục các Bộ và các cơ quan liên quan thực hiện các thỏa thuận cấp cao, đặc biệt là các báo cáo chung được đưa ra trong các chuyến thăm lẫn nhau mới đây của Tổng Bí thư và Chủ tịch Lào Bounnhang Vorachith và Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Các Bộ cũng sẽ phối hợp chặt chẽ tổ chức các hoạt động khác nhau để kỷ niệm lần thứ 55 ngày thiết lập mối quan hệ   song phương và 40 năm kể từ khi ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Lào trong năm 2017, qua đó giúp giáo dục thế hệ trẻ về tình đoàn kết của nước mình.

Tại cuộc hội đàm, hai bên đã trao đổi những quan điểm về các vấn đề khu vực và quốc tế đều quan tâm, bao gồm cả môi trường chiến lược ở Châu Á – Thái Bình Dương, hợp tác trong ASEAN, sự phát triển khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng và sử dụng bền vững tài nguyên nước của sông Mekong, và các vấn đề biển Đông.

Họ đã đồng ý đẩy mạnh hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, chủ động và tích cực chia sẻ thông tin, trao đổi các quan điểm và phối hợp những lập trường thông qua tất cả các kênh và ở tất cả các cấp – theo báo Vietnamnews