Công nghiệp thúc đẩy kế hoạch phát triển đổi mới

Nhiều khu vực đã xây dựng các kế hoạch phát triển dài hạn, nhưng sau một thời gian triển khai thực hiện các kế hoạch đó, họ phải điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tế.

Các chuyên gia từ các ngành công nghiệp xây dựng, than và may mặc nói với một phóng viên báo Thông tấn xã Việt Nam về việc điều chỉnh các kế hoạch phát triển của những ngành công nghiệp đó.

Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú cho sản xuất xi măng, với một sản lượng đá vôi 12,5 tỷ tấn. Bây giờ, năng lực của các ngành công nghiệp xi măng trong nước đã tăng lên 20-25% so với nhu cầu địa phương.

Nhiều ý kiến cho rằng tiêu thụ xi măng trong nước đã phát triển nhưng ngành công nghiệp xi măng nên coi xuất khẩu là một kế hoạch dài hạn để giảm sự cung cấp quá mức 20 triệu tấn xi măng mỗi năm.

Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong giai 2011-2020 và đến năm 2030, được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định Số 1488 / QĐ-TTg năm 2011, đã hỗ trợ sự phát triển hiệu quả của ngành công nghiệp từ năm 2011 đến nay.

Tuy nhiên, sau năm năm thực hiện, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý mang 14 dự án xi măng với dung tích nhỏ khoảng 910.000 tấn xi măng mỗi năm ra vượt kế hoạch, làm chậm sự phát triển của 9 dự án khác và đầu tư chậm 7 dự án khác.

Do đó, theo những hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Xây dựng đã và đang xây dựng kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong giai 2017-2025 và hướng đến năm 2035 nhằm thay thế kế hoạch theo Quyết định 1488.

Mục tiêu của kế hoạch mới theo sự phát triển kinh tế-xã hội, cung và cầu xi măng trên thị trường địa phương, và phát triển thực tế các dự án xi măng theo kế hoạch phát triển.

Đặc biệt, Bộ sẽ điều chỉnh, bổ sung danh mục các dự án đảm bảo tính khả thi cũng như xem xét và điều chỉnh tiến độ phát triển dự án theo kế hoạch để cân bằng cung và cầu.

Việc đổi mới kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp xi măng phải chú ý đến hiệu quả và tính bền vững cũng như tránh lãng phí các nguồn lực và xuất khẩu xi măng xuất khẩu với bất cứ giá.

Hiện nay, một số nhà đầu tư nước ngoài đã lên kế hoạch để mua các nhà máy xi măng hiện đại tại Việt Nam để sản xuất xi măng cho thị trường trong nước họ.

Họ sẽ tận dụng lợi thế về thuế, chẳng hạn như thuế xuất khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với các sản phẩm giá rẻ, trong khi đó, họ sẽ không phải sử dụng các nguồn lực trong nước của họ và cũng tránh sự ô nhiễm từ sản xuất xi măng.

Vì vậy, ngành công nghiệp xi măng cần phải có các mục tiêu cụ thể phù hợp với chiến lược phát triển dài hạn, bao gồm cả tiêu thụ và xuất khẩu trong nước.

Kế hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 và định hướng 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định Số 60/QĐ-TTg năm 2012 nhằm mục tiêu sản lượng than của 55-58 triệu tấn vào năm 2015, 60-65 triệu tấn vào năm 2020, 66-70 triệu tấn trong năm 2025 và hơn 75 triệu đô trong năm 2030.

Tuy nhiên, những khó khăn trong sản xuất có nghĩa là sản lượng than của ngành công nghiệp chỉ đạt 37,6 triệu tấn và tiêu thụ đứng ở mức 35,5 triệu trong năm 2015, còn thiếu mục tiêu.

Do đó, kế hoạch phát triển đã được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của thị trường. Theo đó, mục tiêu đã được giảm xuống, với sản lượng than 41 – 44 triệu tấn trong năm 2016, 51 – 54 triệu tấn vào năm 2020 và 55 – 57 triệu tấn trong năm 2030.

Sự phát triển ngành công nghiệp than theo kế hoạch đổi mới sẽ đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước, tận dụng hiệu quả than và tiết kiệm nguồn tài nguyên than.

Ngoài ra, ngành công nghiệp sẽ giảm xuất khẩu than và tập trung vào xuất khẩu than ở các quốc gia có nhu cầu ít.

Ngành công nghiệp than đã phải đối mặt với thời kỳ khó khăn nhất trong 10 năm qua. Năm nay, sản lượng than được dự đoán sẽ giảm 3 triệu tấn so với năm 2015.

Hiện nay, với nguồn lực hạn chế và than giảm gia ở thị trường trong nước và toàn cầu, Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam sẽ kiểm tra trữ lượng than trong nước nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

Tập đoàn sẽ phát triển và áp dụng các công nghệ tiên tiến để thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng than cũng như giảm các tổn thất trong quá trình khai thác than.

Theo kế hoạch phát triển của ngành công nghiệp dệt may ở Việt Nam vào năm 2020 đến năm 2030, ngành công nghiệp dệt may được dự kiến sẽ đạt 20 tỷ đô trong giá trị xuất khẩu năm 2015, nhưng ngành công nghiệp đã đạt giá trị xuất khẩu 27.5 tỷ đô trong năm 2015 và dự kiến đạt 29 tỷ đô trong năm nay.

Trong vòng 5 năm 2010-2015, ngành công nghiệp đã nắm giữ một tốc độ tăng trưởng đạt giá trị xuất khẩu ở mức 15% trên năm.

Mục tiêu về giá trị xuất khẩu thấp hơn nhiều so với các con số thực tế và kế hoạch phát triển không còn phù hợp với sự phát triển thực tế của ngành công nghiệp.

Do đó, Hiệp hội đã đề nghị Chính phủ và các Bộ, Ban ngành liên quan xem xét kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp dệt may đến năm 2020 để hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may địa phương trong việc tận dụng cơ hội cũng như khắc phục những thách thức từ các hiệp định thương mại tự do.

Việc điều chỉnh kế hoạch có hiệu lực cho đến năm 2025 và hướng tới năm 2040.

Hiệp hội đã đề nghị Chính phủ, Bộ Công nghiệp và Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng các kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp, bao gồm cả kế hoạch phát triển ở khu công nghiệp. Nhiều công ty dệt may nhỏ đã không được tập trung ở các khu chuyên biệt cho ngành dệt may, dẫn đến những khó khăn trong việc quản lý và xử lý nước thải. Yếu tố này có liên quan đến sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường của ngành công nghiệp.

Đổi mới kế hoạch phát triển cho ngành công nghiệp dệt may đến năm 2020 và định hướng 2030 là cần thiết bởi vì ngành công nghiệp này dự kiến sẽ có nhiều lợi thế để phát triển trong vòng 10 năm tới.

 

Công nghiệp thúc đẩy kế hoạch phát triển đổi mới